Nobel Kinh tế 2009: Chứng minh "cha chung không ai khóc" là sai!
- Giải Nobel Kinh tế 2009 đã chứng minh lập luận "cha chung không ai khóc" là hoàn toàn sai. Bà Elinor Ostrom, một nhà khoa học xã hội Mỹ, đã đưa ra những nghiên cứu thực nghiệm cho thấy quản lý tài sản chung vẫn hoàn toàn có hiệu quả cao, thay vì phải cá nhân hóa hay quản lý tập trung về 1 mối.
TIN LIÊN QUAN
Qui định nội tại tốt hơn sự áp đặt
Sinh năm 1933 tại Los Angeles, Mỹ và lấy bằng tiến sĩ khoa học chính trị năm 1965, bà Ostrom không phải là một kinh tế gia, nhưng là một giáo sư của ĐH Indiana, Mỹ, chuyên về quản lý tài sản công. Năm 1990, ĐH Cambridge xuất bản quyển "Quản lý tài sản công" của bà, trong đó mô tả hàng loạt các cuộc khảo sát thực nghiệm về việc quản lý tài sản công.
Bà Ostrom đưa ra được những kết luận vô cùng quan trọng: Một số loại tài sản công như tài nguyên thiên nhiên được bảo vệ không cần sự can thiệp trực tiếp của luật pháp.
![]() |
| Ông Oliver Williamson (trái) và bà Elinor Ostrom (phải) nhận giải Nobel Kinh tế năm 2009. (Ảnh: NYT) |
Bà Ostrom đã thách thức lối suy nghĩ cũ kỹ - tài sản công hay môi trường bị phá hủy vì chủ nghĩa cá nhân luôn đề cao chi phí và lợi ích của riêng mình. Theo lập luận cũ, quyền sở hữu phải được làm rõ đối với tài sản công hoặc chính quyền phải áp đặt thuế để cân bằng sự khác nhau giữa chi phí cá nhân và xã hội.
Nghiên cứu của bà Ostrom không bác bỏ những nguyên tắc cũ nhưng bà cho thấy, trong một số trường hợp khác, kết quả của phương pháp quản lý tài sản công của bà tốt hơn so với lý thuyết cũ.
Lý thuyết mới cho thấy, nơi mà tài sản công được quản lý dựa trên những nguyên tắc được đề ra bởi chính tổ chức đó sẽ cho kết quả tốt hơn bị những qui định từ phía bên ngoài. Một trong những phát hiện thú vị nhất trong nghiên cứu của bà Ostrom: Người ta sẵn sàng trông nom và xử phạt người khác vi phạm những qui định quản lý tài sản công mà không cần nhận bất kỳ xu nào vì hành động đó.
Gia công ngoài tốt hơn tự sản xuất
Trong khi đó, ông Oliver Williamson, sinh năm 1932 tại Wiscosin, Mỹ, tập trung nghiên cứu về quản lý kinh tế trong khu vực công ty. Khác với những nghiên cứu thông thường, ông Williamson lại đi tìm câu trả lời cho một câu hỏi, thoạt nghe rất ngây ngô: Tại sao lại tồn tại hình thức công ty? khi mà người bán và người mua có thể dễ dàng gặp nhau.
Williamson đã cho thấy giao dịch giữa cá nhân với nhau là cách thức mất nhiều thời gian và không hiệu quả. Ông cũng cho thấy cấu trúc công ty mang lại những sức mạnh gì cho những cuộc giao thương. Lý thuyết của ông đã giải thích được vì sao xu hướng "gia công ngoài" (ousourcing) hiện đang thịnh hành trong các công ty.
Những câu hỏi rất "thời thế" cũng được giải đáp bằng lý thuyết của Williamson như: Vì sao các công ty có xu hướng lạm dụng quyền hành? Hay tại sao những công ty lớn thường có xu hướng đầu tư vào một số ngành công nghiệp mạnh và thu hẹp những lãnh vực đầu tư ban đầu?
Chính khoảng thời gian từ 1966 - 1967, làm cố vấn kinh tế cho bộ Tư pháp Mỹ về lãnh vực chống độc quyền, Williamson đã có cơ hội hình thành những lý thuyết của ông về mối quan hệ giữa các công ty. Đài TH Bloomberg nhận định, những nghiên cứu của Williamson tác động rất nhiều vào các chính sách vĩ mô như chính sách bãi bỏ định mức điện tại California hay nhỏ hơn là những chính sách về quản lý nhân sự trong bình diện công ty.
- Doanh Anh (Bloomberg, Financial Times)
