Cận cảnh tình trạng thất nghiệp do suy thoái kinh tế
- Một số phân tích chỉ ra, nếu tình trạng mất việc làm chạm ngưỡng nhạy cảm, có thể đẩy sự suy giảm kinh tế vào vòng xoáy luẩn quẩn: Giảm việc làm dẫn đến giảm thu nhập, điều này dẫn đến giảm chi tiêu làm cho cầu yếu đi, dẫn đến nhiều doanh nghiệp phải tiếp tục cắt giảm sản xuất dẫn đến việc làm tiếp tục bị cắt giảm.
Tuy nhiên, trong bối cảnh thâm hụt ngân sách, thâm hụt vãng lai cũng như lạm phát gần đây ở Việt Nam rất cao, các chính sách kích cầu cũng cần chú ý đến tiêu chí hiệu quả, tức là làm sao có thể duy trì nhiều việc làm nhất với lạm phát và mất cân đối vĩ mô ở mức thấp nhất có thể.
Muốn đưa ra một chính sách kinh tế phù hợp, được những thông tin về mức độ tác động của cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay đến doanh nghiệp và người lao động ở Việt Nam, khả năng chịu đựng và đối sách của họ nếu cuộc khủng hoảng chưa thể kết thúc sớm, hệ thống an sinh xã hội chính thức và phi chính thức tại các địa bàn có nhiều người bị tác động ảnh hưởng…
Bee giới thiệu khảo sát về vấn đề trên tại địa bàn Hà Nội do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Ngân hàng thế giới và Oxfam Anh phối hợp thực hiện.
Lao động tự do, thiếu việc làm, giảm thu nhập
Khảo sát cho thấy người lao động nhập cư đang đối mặt với tình trạng giảm thu nhập, nhiều người lao động nhập cư tại các làng nghề và khu công nghiệp được khảo sát đang quay lại quê nhà. Họ và làng quê họ, nơi đã từng hưởng lợi từ tiền gửi về do làm thuê, đang gánh chịu nhiều nhất những tác động trước mắt của khủng hoảng kinh tế. Xu thế và hướng đi của lao động di cư trong nước và mối liên kết nông thôn - thành thị là những chỉ số quan trọng cần được sử dụng để tiếp tục theo dõi tác động xã hội của khủng hoảng kinh tế trong thời gian tới.
![]() |
| Suy thoái kinh tế làm giảm thu nhập, thiếu việc làm. Ảnh Tuần VN |
Thu nhập của những người làm thuê theo ngày trong thành phố đang bị giảm sút, do có ít việc hơn so với 1 năm trước đây, nhất là công việc trong lĩnh vực xây dựng vốn trước đây là nguồn việc chính của họ. Hơn nữa, có thêm sự cạnh tranh từ các công ty dịch vụ làm các công việc vệ sinh nhà cửa, vận chuyển đồ đạc, bốc xếp hàng hóa..., cũng làm giảm cơ hội có việc làm của người lao động, trong đó có phụ nữ.
Những người lao động đã làm ở các “chợ lao động” tại Hà Nội từ nhiều năm nay cho biết, tiền công ngày tại thời điểm cuối 2008 đã tăng 10 - 20% so với thời điểm cuối 2007 do tăng giá cả sinh hoạt. Tuy nhiên, tính trung bình số ngày có việc làm trong tháng đã giảm khoảng 50% trong cùng giai đoạn.
Người lao động được phỏng vấn cho biết, nếu trong năm 2007 họ có thể có việc làm 20 ngày/tháng thì đến cuối 2008, họ chỉ có việc làm khoảng 10 ngày/tháng, trong đó số ngày làm các công việc xây dựng giảm khoảng 70%, các công việc khác như khuân vác, chuyển đồ, thu dọn vệ sinh… giảm khoảng 30%. Tiền tiết kiệm hàng tháng trung bình giảm khoảng 30 - 50% trong 1 năm qua.
Một số người lao động cho biết, từ sau Tết năm nay đến giờ, họ không nhận được công việc xây dựng nào, do đó thiếu tiền để trả cho các chi phí cuộc sống tối thiểu tại thành phố.
Gia đình người lao động gánh hậu quả
Giảm thu nhập và giảm khoản tiền gửi về nhà, cộng thêm chi phí cuộc sống gia tăng, đã ảnh hưởng tiêu cực đến chi tiêu hàng ngày của gia đình họ, có nguy cơ ảnh hưởng đến việc học hành của con cái ở quê nhà. Một chị phụ nữ quê ở huyện Phúc Thọ (Hà Tây cũ, nay thuộc Hà Nội) đang đứng chờ việc cho biết: “Đồng tiền bây giờ mất giá. Tết năm ngoái giá gạo chỉ 5 – 7 nghìn đồng mà nay đã tăng hơn 10.000 đồng/1 cân. Khó khăn nhất là tầm vừa ra Tết, không có tiền, ít việc… Bình thường thì một tháng mua thịt khoảng 3 - 4 lần.
Nhưng ra Tết đến giờ không có việc mấy nên con cũng chưa được bữa thịt nào. Tiền đi làm về được ít chỉ đủ mua cho con ít đậu ăn, rồi mua thêm ít mỡ, đun lên lấy nước xào rau, rán đậu, còn tép mỡ để cho con ăn cũng được…”. Một phụ nữ khác quê ở Nghệ An, ra Hà Nội chờ việc cùng với chồng, giải thích thêm: “Nếu hai vợ chồng không có dư tiền để gửi về gia đình như tình trạng từ ngày mồng 10 Tết đến nay, có nhiều khả năng đứa con thứ hai cũng phải nghỉ học, lên đây đi giúp việc cho hộ gia đình nào đó để cầm cự nuôi hai đứa nhỏ học tiếp”.
Mặc dù vậy, người lao động công nhật chưa bị thất nghiệp hoàn toàn, nhờ vào sự giúp đỡ nhau của những người cùng cảnh (nhờ có mối quan hệ xã hội rộng). Họ thường đi làm theo nhóm những người cùng quê, sẵn sàng nhận việc để nhiều người cùng làm và chia đều tiền công (kể cả khi thu nhập mỗi người sẽ ít đi). Họ có thể vay mượn nhau những khoản tiền nhỏ lúc khó khăn không có việc.
Trong giai đoạn khó khăn, việc phân biệt loại công việc theo giới tính không thể hiện rõ. Phụ nữ cũng tham gia làm một số việc "nặng" thường do nam giới làm, và ngược lại. Trong một nhóm lao động thường có cả nam và nữ, và họ chia tiền đều nhau sau khi xong việc. Tuy nhiên, tác động giới khác nhau chưa được tìm hiểu kỹ do giới hạn của cuộc khảo sát.
Dù thế nào vẫn phải bám trụ
Khảo sát tại 5 “chợ lao động” chính tại Hà nội cho thấy, khoảng 70% người lao động là người đứng tuổi đã có gia đình đến từ những vùng nông thôn nghèo, học vấn và tay nghề thấp. Họ là người kiếm tiền chính cho gia đình.
Làm công việc chân tay ở “chợ lao động” là lựa chọn chính của họ để kiếm thêm thu nhập trong thời gian nông nhàn. Do vậy, họ sẽ tiếp tục bám trụ lại thành phố, kể cả thu nhập và tiết kiệm giảm hơn trước do tác động của khủng hoảng kinh tế.
Một bác nam giới đứng chờ việc ở chợ Bưởi cho biết: “Chúng tôi là nguồn thu nhập chính của gia đình. Ở nhà, vợ con chỉ chăn nuôi 2 - 3 con heo, bán được có vài trăm nghìn đồng, còn chủ yếu vẫn phụ thuộc tiền của chồng gửi về nhà. Thế nên việc ít tiền hay nhiều tiền cũng phải làm".
Một số người có thể ở nhà một thời gian rồi lại ra thành phố tìm việc. Một nam lao động khác ở chợ Bưởi giải thích: “Trình độ hạn chế, đất ruộng ít, không có nghề nghiệp thì chỉ còn cách bám vào công việc này, chứ về nhà thì biết làm gì. Giờ về quê chỉ ngồi nhìn nhau, lấy tiền đâu để sống?”.
Khoảng 30% còn lại là thanh niên trẻ chưa lập gia đình (có một số sinh viên). Họ làm công việc tạm thời này để kiếm một số tiền tiết kiệm đi tìm cơ hội học nghề, kiếm việc khác tốt hơn hoặc đi miền Nam. Tình hình khủng hoảng kinh tế hiện tại khiến cho chiến lược kiếm sống này có thể khó thực hiện được.
Một số lao động chờ việc có thể kiếm nhiều việc hơn những người khác trong bối cảnh khó khăn chung hiện nay. Những người lao động tham gia thảo luận nhóm cho biết, một số người đứng chờ việc “chuyên nghiệp” có mang theo xe máy và có cả điện thoại di động (dù là đồ cũ giá trị thấp), thì có cơ hội nhận nhiều việc hơn từ những mối khách hàng quen, hoặc đến nhà chủ thuê việc nhanh hơn những người khác đi xe đạp hoặc đi bộ.
| Cuộc khảo sát nhanh mang tính định tính được tiến hành vào cuối tháng 2/2009 tại Hà Nội, thông qua các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc và thảo luận nhóm sử dụng một số công cụ đánh giá nhanh PRA như đường thời gian và bài tập xếp hạng. Tổng cộng có 105 người tham gia vào cuộc khảo sát, gồm người lao động thuộc khu vực phi chính thức (đứng chờ việc theo ngày tại 5 điểm “chợ lao động” ở Hà Nội), người lao động và chủ doanh nghiệp làng nghề (tại 2 làng nghề nổi tiếng gần Hà Nội là làng gốm sứ Bát Tràng và làng sơn mài Hạ Thái), công nhân nhập cư thuộc khu vực chính thức và các nhà quản lý doanh nghiệp (gần khu công nghiệp Bắc Thăng Long - TLIP): Khu vực phi chính thức: tiến hành 3 thảo luận nhóm với 16 người lao động chờ việc theo ngày (trong đó có 3 nữ), và phỏng vấn 9 người lao động (trong đó có 6 nữ). Làng nghề: Phỏng vấn 29 chủ cơ sở làng nghề (gồm 12 doanh nghiệp và hợp tác xã, 17 cơ sở sản xuất quy mô hộ gia đình), 12 người lao động (trong đó có 4 nữ), 6 cán bộ xã, thôn và hiệp hội làng nghề. Khu vực chính thức: Phỏng vấn đại diện công ty quản lý khu công nghiệp Bắc Thăng Long, 4 người quản lý doanh nghiệp, 23 công nhân (trong đó có 18 nữ), 2 cán bộ xã và thôn, 2 chủ nhà trọ quanh khu công nghiệp, và đại diện trường dậy nghề cho công nhân. |
(Kỳ tiếp: Tác động tới khu vực làng nghề)
- Trích "Báo cáo kết quả bước đầu khảo sát nhanh tác động của khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu đến doanh nghiệp, người lao động ở Hà Nội, Việt Nam; Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Ngân hàng thế giới và Oxfam Anh phối hợp thực hiện tháng 3/2009
